Hiện nay các bộ dàn âm thanh hoàn chỉnh gồm loa, đầu đĩa... được nhiều hãng điện tử sản xuất để người dùng thuận tiện khi chọn lựa, lắp đặt và sử dụng.
Bộ dàn đóng gói sẵn có nhiều kiểu, lý tưởng nhất là bộ 5 “chấm” đầy đủ
Các hãng nước ngoài gọi những bộ dàn này là “home theatre in box” (HTiB - rạp hát tại gia đóng gói sẵn trong thùng), mặc dù từ đó không chuẩn. Bởi lẽ, “rạp hát tại gia” bao gồm rất nhiều thứ mà một thành phần quan trọng nhất là màn hình hiển thị, trong khi không có bộ HTiB nào có kèm màn hình. Thiếu màn hình hay TV, các thiết bị như loa, đầu của HTiB đó không còn giá trị, bởi âm thanh đó phải đi kèm hình ảnh hay video.
Tuy nhiên, các nhà sản xuất và người chơi đã ngầm định khi nhắc đến HTiB là nhắc đến một bộ công cụ tương đối đầy đủ (có thể ở mức tối thiểu) để trình diễn hình ảnh - âm thanh đa kênh chuyên để xem phim, video, ca nhạc, truyền hình. Cần chú ý rằng không phải tất cả các HTiB đều bao gồm một thiết bị phát nguồn video như đầu DVD hay Blu-ray và có thể chúng không có ampli rời.
Âm thanh cho rạp hát tại gia là âm thanh vòm, ít nhất là hệ thống 5.1 (2 loa trước, 2 loa sau, 1 loa trung tâm và 1 loa siêu trầm). Nhưng cũng có những hệ thống loa 2.1 trên thị trường dùng hai loa và một loa siêu trầm đánh lừa đôi tai người nghe, khiến họ có cảm giác như nghe 5 loa và cũng có những loa trên một thanh đơn cũng cho cảm giác giả lập này. Các hệ thống loa dành cho máy tính ngày nay cũng có những loại 2.1 ( 2 loa trước và 1 loa trầm) hay 5.1( 2 loa trước, 2 loa sau và 1 loa trầm). Sự phân loại sau đây sẽ giúp người mua dễ lựa chọn theo nhu cầu của mình:
Hệ thống có các thành phần riêng biệt
Một số nhà sản xuất thay đổi mục tiêu với các thiết bị tiêu chuẩn, đưa chúng vào một HTiB. Cách đơn giản nhất là đặt một bộ các thiết bị thường thấy của công ty (mỗi thiết bị trong một thùng riêng) trong một thùng lớn. Điều này có nghĩa là bạn có thể tìm thấy một AV receiver rời với giá 299 USD, nhưng cũng có thể thấy nó trong một bộ HTiB giá 549 USD.
Tùy vào giá cả, hệ thống sẽ có hoặc không có đầu phát video. Mặt lợi của hệ thống như vậy là người ta biết rõ số lượng các thiết bị và dùng được chúng trong nhiều hoàn cảnh với nhiều kiểu loa khác nhau. Họ cũng có thể nâng cấp và mở rộng hệ thống sau này.
Đôi khi HTiB sẽ bao gồm các thành phần rời chỉ bán cho gói sản phẩm đó, nhưng không có nghĩa là chất lượng kém. Nhưng cũng cần chú ý không phải tất cả các nhà sản xuất thiết bị điện tử danh tiếng nào cũng tạo ra bộ loa hay. Do đó, khi thấy một chiếc AV receiver trong bộ đó tốt, bạn không nên giả định là loa của bộ đó cũng tốt. Điểm ưu thế khi chọn HTiB loại này là sự thuận tiện, không mất công xem xét loa nào đi với receiver và đầu đĩa nào.
Đầu điện tử “tất cả trong một” và loa
Đây là một kiểu HTiB điển hình, nhất là trong phân khúc giá rẻ, bao gồm một bộ loa kết nối đồng bộ với một thiết bị điện tử tích hợp mọi thứ. Đó thường là một AV receiver và một đầu đĩa thiết kế trong một khung vỏ duy nhất. Bộ sản phẩm loại này tốn ít chi phí sản xuất nên giá thành cũng rẻ hơn, có loại chỉ hơn 3 triệu đồng. Ưu điểm khác là thiết kế này cũng rất đơn giản khi lắp đặt, sử dụng bởi một điều khiển từ xa đã tích hợp khả năng vận hành mọi tính năng trong thiết bị đó.
Tuy nhiên, hạn chế của kiểu này là khó mở rộng và nâng cấp bởi không có đủ các cổng vào ra phụ thêm. Ampli tích hợp cũng không thể xử lý các loại loa khác cần công suất “kéo” lớn. Đôi khi các nhà sản xuất sẽ đặt bộ phận khuếch đại ở loa siêu trầm để cắt giảm một bộ nguồn.
Hệ thống 2.1
Có những hệ thống lấy mẫu “tất cả trong một” trên nhưng lại giảm số lượng loa chỉ còn 2 (đôi khi còn không có cả loa siêu trầm). Xử lý tín hiệu thường được dùng để “đánh lừa” tai người dùng, khiến họ nghĩ là căn phòng đầy ắp âm thanh được tạo ra từ 5 loa.
Ưu điểm của kiểu này là lắp đặt rất dễ, không có loa sau nên không phải chạy nhiều dây. Tất nhiên hạn chế bộc lộ rất rõ, bởi sẽ không cho cảm giác như các loa vòm thật sự. HTiB loại này có thể nâng cấp được nếu chúng dùng mạch xử lý DTS và giải mã Dolby Digital. Lúc đó, người dùng chỉ việc mua thêm 2 loa sau, loa trung tâm và ampli 3 kênh nữa để có bộ 5.1 hoàn chỉnh.
Hệ thống 1.1
Một thanh loa duy nhất chứa các mạch điện, driver, ampli...
Một khung vỏ duy nhất nhưng chứa rất nhiều thứ như loa chính, các thành phần điện tử, loa siêu trầm, hệ thống này được coi là đơn giản nhất, gọn gàng nhất. Chúng được gọi là “sound bar”, tái tạo âm thanh vòm nhưng chất lượng lại phụ thuộc vào căn phòng.
Những hệ thống loại này phụ thuộc nhiều vào âm thanh phản lại nên các gian phòng rộng, nhiều khoảng trống sẽ không thích hợp. Sự gọn nhẹ của nó tất nhiên sẽ đồng nghĩa với thiết kế kỹ thuật phù hợp cho gian phòng chật hẹp, không đủ chỗ để kê bộ loa vòm cồng kềnh.
HTiB “đóng gói”
Khi nhu cầu về sự gọn gàng lên tới đỉnh điểm, người ta đã sản xuất ra một HTiB thật sự đúng với nghĩa của nó, đó chính là những chiếc tivi màn hình phẳng cao cấp tích hợp sẵn loa vòm ảo.
Hoặc HTiB “đóng gói” còn thể hiện ở kiểu loa 3 trong 1 hay 5 trong 1, tất cả trên một khối, nhưng vẫn cần đến AV receiver riêng. Tất nhiên, chất lượng của chúng sẽ không làm người nghe khó tính thấy hài lòng và chỉ mang tính trang điểm cho một căn phòng.
Theo Hometheatermag
Thursday, October 29, 2009
Wednesday, September 30, 2009
RAID LÀ GÌ ?
RAID LÀ GÌ ?
NÓ LÀ NHƯ SAU:
RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đă có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà c̣òn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:
1. RAID 0
Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu 2 đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping.
Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ và như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều.
Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số.

2. RAID 1


5. JBOD
NÓ LÀ NHƯ SAU:
RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đă có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà c̣òn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:
1. RAID 0
Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu 2 đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping.
Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ và như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều.
Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số.
2. RAID 1
Đây là dạng RAID cơ bản nhất có khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu. Cũng giống như RAID 0, RAID 1 đọ̀i hỏi ít nhất 2 đĩa cứng để làm việc. Dữ liệu được ghi vào 2 ổ giống hệt nhau (Mirroring). Trong trường hợp một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường. Bạn có thể thay thế ổ đĩa bị hỏng mà không phải lo lắng đến vấn đề thông tin thất lạc. Đối với RAID 1, hiệu năng không phải là yếu tố hàng đầu nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó không phải là lựa chọn số một cho những người say mê tốc độ. Tuy nhiên đối với những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng thì hệ thống RAID 1 là thứ không thể thiếu. Dung lượng cuối cùng của hệ thống RAID 1 bằng dung lượng của ổ đơn (hai ổ 80GB chạy RAID 1 sẽ cho hệ thống nhìn thấy duy nhất một ổ RAID 80GB).
3. RAID 0+1
Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đă ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai "đàn anh". Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu "thấy được" là (4*80)/2 = 160GB.
4. RAID 5
Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng.
Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng.
Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3.
Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2.
Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó tŕnh tự này lặp lại.
Đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu.
Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao.
Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB th́ dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB.
Việc có 4 ổ cứng hay 5 thì nguyên tắc ghi cũng như thế, nếu 4 ổ cứng thì nguyên tắc cũng giống như hình dưới đây:
Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đă ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai "đàn anh". Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu "thấy được" là (4*80)/2 = 160GB.
4. RAID 5
Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng.
Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng.
Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3.
Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2.
Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó tŕnh tự này lặp lại.
Đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu.
Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao.
Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB th́ dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB.
Việc có 4 ổ cứng hay 5 thì nguyên tắc ghi cũng như thế, nếu 4 ổ cứng thì nguyên tắc cũng giống như hình dưới đây:
5. JBOD
JBOD (Just a Bunch Of Disks) thực tế không phải là một dạng RAID chính thống, nhưng lại có một số đặc điểm liên quan tới RAID và được đa số các thiết bị điều khiển RAID hỗ trợ. JBOD cho phép bạn gắn bao nhiêu ổ đĩa tùy thích vào bộ điều khiển RAID của mình (dĩ nhiên là trong giới hạn cổng cho phép). Sau đó chúng sẽ được "tổng hợp" lại thành một đĩa cứng lớn hơn cho hệ thống sử dụng. Ví dụ bạn cắm vào đó các ổ 10GB, 20GB, 30GB thì thông qua bộ điều khiển RAID có hỗ trợ JBOD, máy tính sẽ nhận ra một ổ đĩa 60GB.
Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi.
Tham khảo thêm tại http://en.wikipedia.org/wiki/RAID
Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi.
Tham khảo thêm tại http://en.wikipedia.org/wiki/RAID
Tuesday, September 1, 2009
Virtual Memory – Page File – Tệp phân trang
DẪN NHẬP:Giả sử bạn đã nạp 1 ứng dụng 15Mb rồi, bây giờ bạn lại nạp 1 ứng dụng 20Mb khác nữa nhưng chỉ còn 10Mb RAM trên máy tính của bạn mà thôi.
Bạn có tưởng tượng chuyện gì xảy ra không? Rằng ứng dụng đó không thể chạy được?
Nếu 1 ứng dụng… “có tính giáo dục” có lẽ nó chấp nhận “tin buồn” và xoay sở với số lượng RAM ít ỏi đó.
Nhưng một ứng dụng có lỗi (tiếc là ứng dụng nào cũng có ít nhiều lỗi cả! ) sẽ bắt đầu ghi vào vùng nhớ mà nó sở hữu rồi cứ thế ghi tiếp từ vùng nhớ đó trở đi. Trong quá trình đó có thể ghi đè lên phần bộ nhớ của 1 phần bộ nhớ của ứng dụng khác và làm tổn hại ứng dụng đó.
Windows Xp đã sử dụng một “mánh khóe” cũ kĩ mà nhiều hệ điều hành đã sử dụng – bộ nhớ ảo.
Mục đích của bộ nhớ ảo Virtual Memory là tăng cường thêm bộ nhớ cho hệ thống bằng cách mượn một phần dung lượng trên đĩa cứng. Phần chứa giả làm RAM đó, trước đây được Microsoft gọi là swap file (tức file hoán đổi) và trong LINUX cũng có một partition nhỏ với tên SWAP partition cũng với mục đích đó, Sau này lại đổi tên thành Page File ( tức là File phân trang ).
Theo mặc định, Windows XP lưu trữ page file (gọi là file phân trang) trên boot partition. Theo Microsoft thì boot partition tức là partition chứa hệ điều hành và các file hỗ trợ của nó, còn system partition là partition chứa các file dùng để khởi động hệ điều hành. Dĩ nhiên, nếu máy chỉ có một partition duy nhất thì boot partition cũng chính là system partition rồi
Kích thước mặc định (được tự động tạo ra lúc cài đặt Windows XP), cũng là kích thước được Microsoft khuyến cáo (recommended size), của file phân trang là bằng 1.5 lần tổng dung lượng RAM vật lý có trên máy. Ví dụ, Kích thước RAM vật lý máy bạn là 512 Mb thì Virtual Memory là 768 Mb
Ví dụ, nếu bạn có 256MB RAM vật lý thì kích thước tối thiểu do hệ thống chọn sẽ là 384MB ( bằng 1,5 lần) , kích thước tối đa sẽ là 1152MB( bằng 4,5 lần).
Muốn xóa đi một file phân trang trên một ổ đĩa nào đó, bạn hãy ấn định cả initial size lẫn maximum size ở giá trị 0, hoặc nhắp chọn No paging file. Nhưng Microsoft cực lực khuyến cáo rằng, đừng nên disable hoặc delete file phân trang dù cho RAM bạn có nhiều đến mấy chăng nữa.Bạn có tưởng tượng chuyện gì xảy ra không? Rằng ứng dụng đó không thể chạy được?
Nếu 1 ứng dụng… “có tính giáo dục” có lẽ nó chấp nhận “tin buồn” và xoay sở với số lượng RAM ít ỏi đó.
Nhưng một ứng dụng có lỗi (tiếc là ứng dụng nào cũng có ít nhiều lỗi cả! ) sẽ bắt đầu ghi vào vùng nhớ mà nó sở hữu rồi cứ thế ghi tiếp từ vùng nhớ đó trở đi. Trong quá trình đó có thể ghi đè lên phần bộ nhớ của 1 phần bộ nhớ của ứng dụng khác và làm tổn hại ứng dụng đó.
Windows Xp đã sử dụng một “mánh khóe” cũ kĩ mà nhiều hệ điều hành đã sử dụng – bộ nhớ ảo.
Mục đích của bộ nhớ ảo Virtual Memory là tăng cường thêm bộ nhớ cho hệ thống bằng cách mượn một phần dung lượng trên đĩa cứng. Phần chứa giả làm RAM đó, trước đây được Microsoft gọi là swap file (tức file hoán đổi) và trong LINUX cũng có một partition nhỏ với tên SWAP partition cũng với mục đích đó, Sau này lại đổi tên thành Page File ( tức là File phân trang ).
Theo mặc định, Windows XP lưu trữ page file (gọi là file phân trang) trên boot partition. Theo Microsoft thì boot partition tức là partition chứa hệ điều hành và các file hỗ trợ của nó, còn system partition là partition chứa các file dùng để khởi động hệ điều hành. Dĩ nhiên, nếu máy chỉ có một partition duy nhất thì boot partition cũng chính là system partition rồi
Kích thước mặc định (được tự động tạo ra lúc cài đặt Windows XP), cũng là kích thước được Microsoft khuyến cáo (recommended size), của file phân trang là bằng 1.5 lần tổng dung lượng RAM vật lý có trên máy. Ví dụ, Kích thước RAM vật lý máy bạn là 512 Mb thì Virtual Memory là 768 Mb
Ví dụ, nếu bạn có 256MB RAM vật lý thì kích thước tối thiểu do hệ thống chọn sẽ là 384MB ( bằng 1,5 lần) , kích thước tối đa sẽ là 1152MB( bằng 4,5 lần).
Việc tối ưu hóa Virtual Memory có lẽ không giúp Windows chạy nhanh lúc start hoặc shutdown nhưng nó giúp hệ thống chạy nhanh khi nạp nhiều chương trình cùng một lúc.
Việc tạo RAM ảo không hề gây hại cho máy, bởi nó sử dụng trữ lượng trên ổ cứng để làm... RAM.
Dùng bộ nhớ ảo không có hại gì cho máy tính, nhưng nếu chạy chương trình mà khiến máy phải dùng đến bộ nhớ ảo ... nhiều nhiều thì nó sẽ chậm như rùa, nhiều hơn nữa là ... đơ máy vì lúc này chỉ có ổ cứng đọc/ghi hoán đổi RAM thôi.
Do đó, không thể tiết kiệm tiền mua RAM được, vẫn phải bổ sung 1 lượng đáng kể nào đó. Bộ nhớ ảo giúp ích khi chạy ứng dụng muốn vượt qua dung lượng thật của RAM 1 chút mà vẫn chạy được, dù trả giá về tốc độ.
NHỮNG PHẦN MỀM TƯƠNG THÍCH WINDOWS 7
Hiện nay Windows 7 mới ra lò, đang ở giai đoạn dùng bản Windows 7 RC ( Release Candidate ) do đó chưa có nhiều phần mềm tương thích, để tránh cho các bạn khỏi mất công cài và gỡ soft tôi liệt kê ra các soft có thể dùng và sẽ bổ sung thêm. Một lưu ý quan trọng là hầu hết các soft, driver tương thích với Windows Vista thì sẽ tương thích với Windows 7.
Danh sách:
7-Zip 4.65 : Nén và giải nén file
Avast! Antivirus 4.8 Home Edition - Free Antivirus : phòng chống virus miễn phí
CCleaner 2.x : Dọn rác máy tính, nhẹ tiện dùng, miễn phí
Cisco System VPN Client - 5.x : Kết nối VPN
Cleverlearn : Tra từ và giải nghĩa Anh Việt, tool nhỏ rất thuận lợi
Defraggler 1.x : Dồn đĩa, gom mảnh.
Easy Hide IP 1.6 : Ẩn IP thật, lấy IP giả, hữu ích khi dùng Rapidshare v.v
Fox PDF 3.0 : Đọc file PDF cực kỳ hiệu quả, miễn phí.
Grammar 2.7 : Bộ công cụ học tiếng Anh cực kỳ đầyđủ, hiệu quả và miễn phí
Internet Download Manager 5.12 : Hỗ trợ dowload cực nhanh, hiệu quả
Microsoft Office 2007 : Bộ công cụ văn phòng đẹp, hấp dẫn
Firefox 3.5.x : Trình duyệt Internet miễn phí, nhanh hiệu quả
Nero 7 Essentials : Công cụ quản lý và ghi đĩa hiệu quả
Notepad ++ 5.4.x : Trình soạn văn bản text và web.
Picasa 3.x : Công cụ quản lý ảnh trên máy tính, kết nối trực tiếp với Picasaweb, sản phẩm của Googgle miễn phí và hiệu quả.
Powerword 2006 : Bộ từ điển Trung - Anh, Anh - Trung, chủ yếu dùng để nghe phát âm, vì chúng phát âm từ Tiếng Anh cực chuẩn
Skype 4.x : Chat trực tuyến, chuyển file cực tốt, chất lượng voice cực nét
TeamViewer 4.0 : Điều khiển máy tính từ xa
Unikey 4.0 RC1 : Bộ gõ Unicode
U95 : Tool nhỏ vượt tường lửa, nhẹ nhàng, dễ dùng và cực nhanh
WampServer 2.0i : Bộ công cụ tích hợp sẵn Web server Apache, PHP, MySQL
Yahoo Messenger 10.x : Bộ công cụ chat trực tuyển của Yahoo
Một số phần mềm không tương thích như Kaspersky Internet Security 7 sẽ không chạy được trên Windows 7
Tất cả các phần mềm hữu dụng đều có tại địa chỉ
FileHippo
hoặc
Sưu tập của tôi
Danh sách:
7-Zip 4.65 : Nén và giải nén file
Avast! Antivirus 4.8 Home Edition - Free Antivirus : phòng chống virus miễn phí
CCleaner 2.x : Dọn rác máy tính, nhẹ tiện dùng, miễn phí
Cisco System VPN Client - 5.x : Kết nối VPN
Cleverlearn : Tra từ và giải nghĩa Anh Việt, tool nhỏ rất thuận lợi
Defraggler 1.x : Dồn đĩa, gom mảnh.
Easy Hide IP 1.6 : Ẩn IP thật, lấy IP giả, hữu ích khi dùng Rapidshare v.v
Fox PDF 3.0 : Đọc file PDF cực kỳ hiệu quả, miễn phí.
Grammar 2.7 : Bộ công cụ học tiếng Anh cực kỳ đầyđủ, hiệu quả và miễn phí
Internet Download Manager 5.12 : Hỗ trợ dowload cực nhanh, hiệu quả
Microsoft Office 2007 : Bộ công cụ văn phòng đẹp, hấp dẫn
Firefox 3.5.x : Trình duyệt Internet miễn phí, nhanh hiệu quả
Nero 7 Essentials : Công cụ quản lý và ghi đĩa hiệu quả
Notepad ++ 5.4.x : Trình soạn văn bản text và web.
Picasa 3.x : Công cụ quản lý ảnh trên máy tính, kết nối trực tiếp với Picasaweb, sản phẩm của Googgle miễn phí và hiệu quả.
Powerword 2006 : Bộ từ điển Trung - Anh, Anh - Trung, chủ yếu dùng để nghe phát âm, vì chúng phát âm từ Tiếng Anh cực chuẩn
Skype 4.x : Chat trực tuyến, chuyển file cực tốt, chất lượng voice cực nét
TeamViewer 4.0 : Điều khiển máy tính từ xa
Unikey 4.0 RC1 : Bộ gõ Unicode
U95 : Tool nhỏ vượt tường lửa, nhẹ nhàng, dễ dùng và cực nhanh
WampServer 2.0i : Bộ công cụ tích hợp sẵn Web server Apache, PHP, MySQL
Yahoo Messenger 10.x : Bộ công cụ chat trực tuyển của Yahoo
Một số phần mềm không tương thích như Kaspersky Internet Security 7 sẽ không chạy được trên Windows 7
Tất cả các phần mềm hữu dụng đều có tại địa chỉ
FileHippo
hoặc
Sưu tập của tôi
Đổi cách thực thi của nút Shut Down của Windows Vista

Theo mặc định, nút shut down trên Start menu của Windows Vista thường đặt máy tính của bạn vào chế độ sleep ( ngủ, tức không tắt hẳn) hơn là thực sự tắt nó. Cách đối xử của nút này được chỉ định bởi màu của nút( màu cam cho chế độ sleep, màu đỏ cho tắt máy ) như thể hiện trong hình chụp. Tùy chọn cho việc thay đổi thiết đặt này là không dễ tìm.
Nếu bạn yêu thích nút tắt máy tính của bạn hơn, nó có thể được thay đổi theo các bước dưới đây. Đến control panel của Vista( thường có thể truy nhập từ Start menu )
1. Trong nút trượt bên trái của Control Panel chọn 'Classic View' ( sau khi bạn đã hoàn thành toàn bộ việc xử lý, bạn có thể trả lại cách xem thông thường bằng cách click 'Control Panel Home' )
2. Nháy đúp vào 'Power Options'
3. Dưới 'Select a power plan', cho kế hoạch chọn lựa hiện tại, kích đường link 'Change Plan Settings'
4. Sau đó kích 'Change advanced power settings'
5. Một hộp thoại sẽ được trưng ra như đây:

6. Sử dụng hộp thoại này, bạn có thể thay đổi lựa chọn sau:
* Power button action - Thay đổi hành động nút nguồn phần cứng
* Start menu power button - Thay đổi nút nguồn trên Start Menu.
Tùy chọn này có thể hơi khác nếu bạn đang sử dụng một máy xách tay, thay vì máy tính để bàn. Bạn có thể thay đổi nút nguồn hoặc là Sleep, Hibernate hoặc tắt máy, hoặc thậm chí không có gifcho nút nguồn phần cứng. Thay đổi thiết đặt này xuất hiện và tác dụng đến tất cả mọi người dùng máy tính
Subscribe to:
Posts (Atom)